Dưới cái nóng như thiêu của Huế, giờ phút mong đợi cũng đã đến. Thế nhưng đêm khai mạc Festival 2008- với chủ đề Di sản văn hóa với hội nhập và phát triển - để lại nhiều dư luận trái chiều… Những tiết mục di sản dân tộc trong Festival cũng vậy.
 |
| Dàn Nhã nhạc cải biên |
Ngồi trên khán đài, tôi nói đùa với anh bạn làm ở Bộ Ngoại giao rằng thế nào cũng được xem tiết mục các diễn viên đóng giả trai gái H’Mông cầm ô, vác khèn nhảy múa kiểu ba-lê, rồi sẽ pha thêm tí múa Nga hay Ấn Độ… Quả nhiên trúng phóc!
Đêm khai mạc, tạm so sánh thế này, tiết mục của các nước bạn giản dị và khá thuần phác, thành thử in đậm dấu ấn văn hóa của họ, rất ấn tượng.
Tiết mục của ta thì cầu kỳ và luôn huy động số đông, na ná giống nhau kiểu “nộm” ca+múa+nhạc, nên hiệu quả tổng thể đương nhiên đơn điệu. Thế mới biết đông người chưa chắc đã hay!
Những người làm chuyên môn dễ dàng nhận ra điều tệ hại nhất: ca sĩ hát nhép, nhạc công chơi nhép trong các tiết mục hoành tráng của Việt Nam. Trong khi các đoàn nghệ thuật nước bạn như Pháp, Bỉ, Hàn Quốc, Nhật Bản chơi nhạc sống đàng hoàng.
Tham gia Đêm Hoàng cung có 2 dàn nhạc của Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế. Cảm giác đầu tiên của tôi là giật mình! Sau 5 năm được UNESCO công nhận, hiện hình trong Festival lần này lại vẫn là dàn Nhã nhạc cải biên với sự tăng cường số lượng nhạc cụ.
Đây vốn là sự “phát triển” theo kiểu tổ -bộ của dàn nhạc giao hưởng. Có tới 3 đàn nguyệt, 2 đàn tam, 3 đàn tỳ bà… cùng diễn tấu, trong khi dàn Nhã nhạc nguyên bản chỉ được biên chế mỗi thứ 1 cây.
Đặc biệt dàn Nhã nhạc cải biên ở đây dùng tới 3 đàn tranh, 2 đàn bầu cùng hỗn tấu. Đây là các nhạc cụ vốn không hề được sử dụng trong Nhã nhạc cung đình Huế. Ngoài ra, sự cải biên còn thể hiện ở thành phần nhạc công nữ- là điều không hề có ở Nhã nhạc cổ truyền.
 |
| Ca Huế trong Cung Diên Thọ |
Việc trưng diễn biên chế dàn Nhã nhạc cải biên nói trên tất sẽ gây hiểu lầm, ngộ nhận trong khán giả, du khách.
Trong 5 năm qua kể từ khi Nhã nhạc được UNESCO công nhận, cơ cấu dàn Nhã nhạc cải biên được dùng khá thường xuyên(!). Thỉnh thoảng tiếp đón giới nghiên cứu, người ta mới dùng dàn nhạc nguyên bản.
Bên cạnh các bài bản nhã nhạc, nhạc công chơi cả chầu văn Huế, rồi nhạc nền cho diễn viên đóng giả vua, quan, hoàng hậu đi ra đi vào... Sau tiết mục vua, quan, hoàng hậu đăng đàn, thướt tha đi đứng khá vui mắt, phần lớn khán giả bỏ đi chơi chỗ khác.
Tôi hỏi nhạc công sao không chơi đủ 10 Bản Ngự, các em cười gượng mà rằng: “Anh không thấy người ta bỏ về hết rồi à!?”.
Nhìn tổng thể, xem ra bộ mặt âm nhạc cổ truyền Việt Nam ở Festival lần này chủ yếu nhấn mạnh vào di sản xứ Huế, thiếu vắng nhiều giá trị đặc trưng khác của dân tộc, đặc biệt là nghệ thuật Cồng chiêng Tây Nguyên- kiệt tác âm nhạc thứ 2 được UNESCO công nhận sau Nhã nhạc cung đình Huế.
Tối 4/6, lúc 19 giờ 40, chúng tôi tiếp tục đến với chương trình Âm sắc Việt tại cung Diên Thọ. Đây có lẽ là chương trình biểu diễn hiếm hoi được cấu trúc thuần túy nhạc cổ truyền nguyên bản trong Festival Huế 2008, gồm Ca trù, Ca Huế và Cải lương, coi như đại diện cho 3 miền cổ nhạc, sắp xếp trong một không gian diễn xướng huyền ảo.
Đại diện cho Ca trù là nhóm Thái Hà của gia đình nghệ nhân Nguyễn Văn Mùi đến từ Hà Nội. Ca Huế góp mặt với 2 danh ca Thanh Tâm và Khánh Vân. Dàn nhạc đệm cho các chị có các anh Trần Thảo và Nguyễn Đình Vân- 2 nghệ nhân có hạng đã được ghi danh trong hồ sơ Nhã nhạc đệ trình UNESCO năm 2002.
Bởi vậy, chất lượng nghệ thuật của Ca trù và Ca Huế trong chương trình Âm sắc Việt rất ấn tượng.
Nhìn chung, các chương trình nghệ thuật biểu diễn trong tối 4/6 đều được Ban tổ chức sắp xếp người dẫn chương trình đàng hoàng, có chỗ còn kèm theo cả phiên dịch cho khách nước ngoài. Riêng chương trình cổ nhạc dân tộc ở cung Diên Thọ thì không được như vậy.
Ở đây, các nghệ nhân, nghệ sĩ Ca trù, Ca Huế và Cải lương đều tự chia nhau ra mà… âm thầm diễn xướng. Ngoại trừ tôi là người làm nghề nghiên cứu, còn thì hầu như không ai biết rõ cái gì đang diễn ra trên sân khấu.
Trước giờ biểu diễn, một vị trong BTC tới gặp các nghệ nhân ở hành lang, nhắc đi nhắc lại là chỉ được biểu diễn trong đúng 1 tiếng đồng hồ. Kết thúc chương trình, không ai tuyên bố lời “hạ màn”, bất đắc dĩ, tôi đành nhờ chính bạn diễn viên Cải lương nói lời tạm biệt khán giả!
Hỏi dò khán giả mới biết hầu hết họ tình cờ ghé vào điểm diễn này chứ không hề biết trước nội dung Âm sắc Việt. Tờ rơi do BTC cung cấp không nói Âm sắc Việt là chương trình gì. Rõ ràng các tiết mục cổ nhạc không hề được giới thiệu, quảng bá cho du khách.
Nhẩm tính, mỗi bộ môn cổ nhạc đại diện cho 3 miền đất nước được khống chế khoảng 20 phút trong chương trình Âm sắc Việt. Trong khi cùng thời điểm đó, hàng loạt các thể loại nhạc “mới”, nghệ thuật “mới” khác đều chiếm trọn cả chương trình, mà phần lớn được quảng bá, bố trí sắp đặt với sự ưu ái cao. Chạnh lòng tủi tủi, cảm giác đó cứ lẩn quất trong tôi khi rời bước khỏi Hoàng thành lúc đêm khuya.
Cũng trong ngày 4/6, Lễ tế đàn Nam Giao được tiến hành đồng thời với các chương trình nghệ thuật trong Đại nội. Dù không mục sở thị, nhưng tôi biết chắc rằng nhiều thành phần âm nhạc nghi lễ quan trọng của Lễ tế Nam Giao cổ truyền sẽ không thể tái hiện, như hệ thống Nhạc Chương hay dàn Biên chung, Biên khánh… Bởi các giá trị âm nhạc đó đã thất truyền từ lâu.